DIỄN ĐÀN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM 2022: THẢO LUẬN CHUYÊN ĐỀ 2 VỀ "THÚC ĐẨY THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG"

18/09/2022 09:35

Ngay sau lễ khai mạc Diễn đàn Kinh tế - Xã hội Việt Nam 2022, sáng nay 18/9, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Viện Hàn lâm khoa học Xã hội Việt Nam đồng chủ trì Chuyên đề 02: "Thúc đẩy việc thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động, tạo động lực phục hồi sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững". Phiên thảo luận chuyên đề 2 có sự tham dự của GS.TS Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ.

Tổng thuật "Diễn đàn Kinh tế - Xã hội Việt Nam năm 2022": Củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phục hồi và phát triển bền vững

Cùng dự phiên thảo luận chuyên đề còn có: Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái; Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải; Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương; Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Bùi Văn Cường; Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách Nguyễn Vũ Cường; Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội Nguyễn Thúy Anh; Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Y Thanh Hà Niê Kđăm; Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Lê Hoài Trung; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan…

PGS.TS Nguyễn Duy Bắc, Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; PGS.TS Bùi Nhật Quang, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam chủ trì phiên thảo luận.

Thảo luận chuyên đề 02: "Thúc đẩy việc thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động, tạo động lực phục hồi sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững".

Theo chương trình, PGS.TS. Nguyễn Trúc Lê, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội trình tham luận: “Triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội – Thực trạng và một số giải pháp trong thời gian tới”.

Tiếp đó, bà Hà Thu Thanh, Chủ tịch Deloitte Việt Nam chia sẻ về chủ đề “Nâng cao năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của doanh nghiệp trong bối cảnh mới”.

Ủy ban Xã hội của Quốc hội có bài trình bày về “Mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội, thúc đẩy việc làm bền vững trong bối cảnh phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội”.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ dự phiên thảo luận chuyên đề 2

PGS.TS. Nguyễn Trúc Lê, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội trình tham luận: “Triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội – Thực trạng và một số giải pháp trong thời gian tới”

Trình bày tham luận về Triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội – Thực trạng và một số giải pháp trong thời gian tới, PGS.TS. Nguyễn Trúc Lê, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết đại dịch Covid-19 đã gây tác động nghiêm trọng đến nền kinh tế nói chung và cộng đồng doanh nghiệp nói riêng. Trong bối cảnh đó, các cơ chế, chính sách hỗ trợ nhóm doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh sau đại dịch đã được Đảng và Nhà nước triển khai liên tục và kịp thời trong thời gian vừa qua. Các chính sách này đã có tác dụng hỗ trợ và thúc đẩy xu hướng phục hồi tính cực của các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước, bảo đảm nguồn cung tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, không phải tất cả các chính sách đều có hiệu quả và tác động nhanh chóng đến doanh nghiệp. Nhiều chính sách tốt nhưng điều kiện quá bất cập, doanh nghiệp khó thụ hưởng; các thủ tục hành chính còn rườm rà, nhiều giấy phép con liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp.

Đánh giá kết quả thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, tập trung vào nhóm nhiệm vụ liên quan tới Hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh tại Nghị quyết số 11/NQ-CP, PGS.TS. Nguyễn Trúc Lê cho biết giải ngân các chính sách hỗ trợ thuộc Chương trình sơ bộ đạt 55,5 nghìn tỷ đồng, trong đó: (i) Các chương trình cho vay ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội đạt 10.073 tỷ đồng; (ii) Hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động đạt 3.045 tỷ đồng cho gần 4,54 triệu lao động; (iii) Giảm thuế giá trị gia tăng, thuế môi trường đối với nhiên liệu bay, xăng đến ngày 26/8/2022 là 34.970 tỷ đồng; (iv) Chi phí cơ hội hỗ trợ thông qua gia hạn thời gian nộp thuế và tiền thuê đất đến hết tháng 6/2022 là 7.400 tỷ đồng. Ngoài ra, gia hạn các loại thuế, tiền thuê đất là 52.000 tỷ đồng.

PGS.TS. Nguyễn Trúc Lê, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội 

Sự phối hợp đồng bộ của các giải pháp nêu trên nhìn chung đã đem đến các kết quả khả quan:  Các chính sách được ban hành cơ bản phù hợp với diễn biến và tác động của dịch bệnh Covid-19, được cập nhật theo diễn biến của dịch bệnh cũng như tình hình kinh tế - xã hội của đất nước. Qui mô gói hỗ trợ đã được mở rộng hơn nhiều so với năm 2020 và 2022, theo dự kiến qui mô gói hỗ trợ năm 2022 là 4,05% GDP.

Các chính sách đưa ra đã được tính toán kỹ lưỡng, phối hợp với nhau tốt, không ảnh hưởng lớn đến các cân đối chủ chốt của nền kinh tế, sự an toàn tín dụng của hệ thống ngân hàng, các chỉ số kinh tế vĩ mô được giữ ổn định, nhưng vẫn duy trì dư địa để tiếp tục xây dựng, thực hiện các giải pháp trong giai đoạn tiếp theo. Theo dự báo của Ngân hàng Thế giới, kinh tế Việt Nam được dự báo có thể tăng trưởng 7,5% trong năm 2022, tăng mạnh so với 2,6% năm 2021. Lạm phát vẫn được kiểm soát tốt: CPI tính chung 8 tháng năm 2022 tăng 2,58%, tương đương cùng kỳ các năm 2018-2021. Thị trường ngoại tệ, tỷ giá hối hối đoái được giữ ổn định (biến động trong phạm vi cho phép với biên độ +/- 2%).

Tính đến ngày 22/7/2022, gói hỗ trợ người lao động theo Nghị quyết số 11/NQ-CP đã giải ngân khoảng 196,7 tỷ đồng, hỗ trợ cho gần 340 nghìn người lao động đang làm việc trong 3,3 nghìn đơn vị sử dụng lao động; hỗ trợ 5,1 tỷ đồng cho gần 5000 người lao động quay trở lại làm việc tại khoảng 600 doanh nghiệp. Thị trường lao động dần phục hồi tích cực, trong 6 tháng đầu năm 2022, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 51,4 triệu người, cao hơn 0,4 triệu người so với cùng kỳ năm trước; lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm là 50,3 triệu người, tăng 417 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung, các chính sách, giải pháp đã rất chủ động, linh hoạt và kịp thời giúp giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, duy trì một mặt bằng tỉ giá, lãi suất hợp lý, cơ bản ổn định so với các nước lớn và trong khu vực đang chịu nhiều biến động, qua đó giúp xu hướng phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng được củng cố và phát triển tích cực.

PGS.TS Nguyễn Duy Bắc, Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; PGS.TS Bùi Nhật Quang, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đồng chủ trì phiên thảo luận.

Bên cạnh đó, theo PGS.TS. Nguyễn Trúc Lê cho biết việc triển khai Chương trình còn một số tồn tại khó khăn như  chính sách tốt nhưng điều kiện quá bất cập, doanh nghiệp khó thụ hưởng, chưa kịp thời điều chỉnh các bất cập.“Doanh nghiệp lớn dễ dàng tiếp cận các chính sách hỗ trợ qua văn bản chính thức, còn doanh nghiệp nhỏ lại tiếp cận thông tin qua kênh phi chính thức. Bên cạnh đó, đối tượng thụ hưởng khó đáp ứng yêu cầu thủ tục hành chính; thời hạn thực hiện các gói hỗ trợ ngắn, chỉ 3 - 6 tháng. Đối tượng hỗ trợ tập trung vào một số ngành nghề, trong khi nhiều ngành nghề đang thực sự khó khăn vẫn chưa được hỗ trợ kịp thời, trong đó có doanh nghiệp du lịch. 

Ngoài ra, các văn bản hưởng dẫn chưa kịp thời. Đơn cử, đối với chính sách gia hạn tiền thuê đất, dự kiến tiền thuê đất, thuê mặt nước được gia hạn trên 3.000 tỷ đồng. Song, 8 tháng đã qua vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể. 

PGS.TS Nguyễn Trúc Lê cho rằng, Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế đã thực sự kích thích nền kinh tế phát triển, tạo niềm tin cho doanh nghiệp, người dân. Dự kiến, việc triển khai thực hiện Chương trình sẽ đóng góp 1,5 - 2% tăng trưởng GDP của năm 2022. Ước tính cả năm nay tăng trưởng đạt 7,5%. Muốn vậy, cần tổng hợp, đánh giá kỹ các gói hỗ trợ. 

PGS.TS Nguyễn Trúc Lê nêu rõ, để thúc đẩy các gói hỗ trợ, các cơ quan quản lý cần tiếp tục lắng nghe cộng đồng doanh nghiệp; có hệ thống giám sát, đánh giá kịp thời, có hướng dẫn cụ thể cho các địa phương thực hiện. Bên cạnh đó, cần rà soát các tiêu chí, chỉnh sửa cho phù hợp; bổ sung tiêu chí mới khi nền kinh tế thế giới đối mặt nhiều thách thức. Việc hỗ trợ cần có mục tiêu, như ưu tiên với các ngành trong lĩnh vực tạo bệ đỡ cho nền kinh tế như nghiệp logistics, công nghiệp hỗ trợ…

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cùng các Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội dự phiên thảo luận chuyên đề 2

Về dài hạn, PGS.TS Nguyễn Trúc Lê đề xuất nên điều chỉnh giảm chính sách giảm thuế, tăng chính sách gia hạn thuế. Các chính sách phải xây dựng trên nguyên tắc can thiệp có mục tiêu, không thực hiện các chính sách hỗ trợ hay can thiệp đại trà. Chính sách cần xác định rõ thời kỳ áp dụng để bảo đảm tính linh hoạt, nghĩa là có lộ trình cụ thể.

Về một số chính sách hỗ trợ cụ thể, theo vị chuyên gia này, cần tiếp tục giảm thuế bảo vệ môi trường, xem xét giảm thuế VAT và thuế tiêu thụ đặc biệt. Bộ Tài chính và Ủy ban Tài chính - Ngân sách cần bóc tách vấn đề này.

Với chính sách hỗ trợ lãi suất 2%, hiện nhiều doanh nghiệp không mặn mà vì phải đáp ứng nhiều điều kiện, thủ tục, lo ngại trách nhiệm thnh tra. Chưa kể, nhiều doanh nghiệp chưa có tài sản bảo đảm; các hợp tác xã chưa có giấy phép đăng ký kinh doanh đang là rào cản để được tiếp cận gói hỗ trợ. 

Trên thực tế, dù các ngân hàng thương mại đã được nới room tín dụng song chưa đáp ứng kỳ vọng. Chúng tôi hiểu rằng điều này vì mục tiêu lạm phát 4%, song Ngân hàng Nhà nước cần xem xét điều chỉnh room tín dụng, PGS.TS Nguyễn Trúc Lê đề nghị.

Chủ tịch HĐTV Deloitte Việt Nam Hà Thu Thanh: Nâng cao năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của doanh nghiệp trong bối cảnh mới

Đóng góp ý kiến từ phía đại diện doanh nghiệp về vấn đề thúc đẩy việc thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động, tạo động lực phục hồi sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững, Chủ tịch HĐTV Deloitte Việt Nam Hà Thu Thanh cho biết, đại dịch Covid-19 đã gây ra những tác động nghiêm trọng đến tình hình kinh tế - xã hội trên toàn thế giới trong năm 2020 và 2021. Những nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản, Cộng đồng chung châu Âu (EU) đã rơi vào tình trạng suy thoái kinh tế sâu, tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ qua; thương mại toàn cầu suy giảm, chuỗi cung ứng bị gián đoạn, hoạt động sản xuất và lưu thông bị đình trệ…

Ở trong nước, Việt Nam không nằm ngoài tác động chung của Đại dịch Covid như các quốc gia khác - đại dịch đã tác động tiêu cực, sâu rộng tới nền kinh tế Việt Nam với sự đứt gãy chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp lại gặp khó khăn trong hoạt động xuất khẩu sang các thị trường trường truyền thống.

Bà Hà Thu Thanh, Chủ tịch Deloitte Việt Nam

Bà Hà Thu Thanh cho biết, sau 2 năm ứng phó với Đại dịch Covid-19, các doanh nghiệp phải tạm đóng cửa hay giải thể thì phần lớn do khó khăn về tài chính, đặc biệt là khó khăn về dòng tiền để duy trì các hoạt động thường xuyên. Bên cạnh đó, Các doanh nghiệp bước vào giai đoạn phục hồi sau đại dịch thì lại gặp khó khăn trong việc tuyển dụng lao động, thiếu hụt cả số lượng và thiếu hụt kỹ năng của người lao động. Việc thiếu hụt kỹ năng đã và đang cũng là một trở ngại lớn đối với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp đã tham gia hoạt động xuất, nhập khẩu, cùng với đó là sự cạnh tranh về lao động lành nghề, lao động chất lượng cao đi kèm với quá trình chuyển dịch đầu tư vào Việt Nam ngày càng khốc liệt. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn và không ưu tiên cho các hoạt động đổi mới sáng tạo để nâng cao năng suất, cải thiện năng lực cạnh tranh.

Chủ tịch HĐTV Deloitte Việt Nam cho rằng, năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp được cộng hưởng và gia tăng khi được chia sẻ một cách đầy đủ trong sự kết nối với các hiệp hội ngành nghề, cũng như nhận được sự lắng nghe, hỗ trợ và tháo gỡ kịp thời những vướng mắc, khó khăn của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp, từ địa phương đến Trung ương. Điều này cũng thể hiện cho sự quan tâm và cùng đồng hành, chia sẻ giá trị và trách nhiệm của các cơ quan quản lý với cộng đồng doanh nghiệp. Ngoài ra, Chủ tịch HĐTV Deloitte Việt Nam kiến nghị Chính phủ cần có một cơ chế cho các doanh nghiệp đang đi tiên phong về môi trường, với các thể chế liên quan đến những ưu tiên, ưu đãi về thuế và đất đa cho những địa điểm đặt các nhà máy sản xuất, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.

TS. Lâm Văn Đoan – Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Xã hội của Quốc hội: Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện và nâng cao hiệu quả 03 Chương trình mục tiêu quốc gia

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội Lâm Văn Đoan trình bày tham luận

TS.Lâm Văn Đoan – Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Xã hội của Quốc hội cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2022, nhiều dấu hiệu tích cực cho thấy thị trường lao động đã cơ bản phục hồi và đang phát triển theo xu hướng tích cực. Số lao động bị ảnh hưởng tiêu cực bởi đại dịch COVID-19 giảm mạnh, số người gia nhập lực lượng lao động tiếp tục tăng, lao động có việc làm tăng mạnh, đặc biệt là trong khu vực dịch vụ. Thị trường lao động tăng trưởng mang tính bền vững hơn với mức tăng tập trung chủ yếu ở lao động có việc làm chính thức. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm đều giảm. Thu nhập của người lao động tiếp tục được cải thiện.

Tuy nhiên, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Xã hội nêu rõ, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, những suy giảm hoạt động kinh tế toàn cầu, nhất là sự phục hồi chậm chạp của chuỗi cung ứng toàn cầu vẫn đang tác động đến sự phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong bối cảnh phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, TS. Lâm Văn Đoan cho rằng, xã hội hiện nay cần quan tâm đến việc chuyển dịch cơ cấu lao động trên thị trường còn chậm về cả ngành nghề, địa bàn không theo kịp chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tình trạng thiếu hụt lao động cục bộ, tạm thời trong một số ngành, lĩnh vực; chất lượng lao động còn hạn chế, tỷ lệ lao động ở khu vực phi chính thức lớn.

Cùng với đó, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp còn thấp trong lực lượng lao động, đa số lao động khu vực phi chính thức chưa tham gia bảo hiểm xã hội; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đang bị chững lại và giảm đột ngột trong năm 2022. Đồng thời cũng cần quan tâm đến việc tăng cường hiệu quả triển khai 03 Chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó có Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 , hướng tới mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội cho người dân, nhất là các nhóm nghèo, cận nghèo, dân tộc thiểu số, người có hoàn cảnh khó khăn.

Các đại biểu tại phiên thảo luận chuyên đề 2

Trên cơ sở những khuyến nghị, tư vấn của Tổ chức lao động quốc tế, đối với Việt Nam trong giai đoạn 2022-2026, công tác xây dựng pháp luật cần quan tâm xây dựng khung thể chế thúc đẩy việc làm bền vững, cải cách/đổi mới hệ thống chính sách an sinh xã hội thông qua sửa đổi, bổ sung các Luật: Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Việc làm, An toàn, vệ sinh lao động; nghiên cứu, rà soát hoàn thiện pháp luật về tố tụng lao động; bảo trợ xã hội; chăm sóc, bảo vệ người cao tuổi, người khuyết tật.

Bên cạnh đó, từ góc độ quản lý nhà nước, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Xã hội Lâm Văn Đoan cho rằng cần tiếp tục tập trung phát huy những lĩnh vực kết quả đã có nhiều tiến bộ, đồng thời cần giải quyết các vấn đề tồn tại, thách thức như tỷ lệ việc làm phi chính thức còn ở mức cao, tỷ lệ lao động chưa qua bất cứ hình thức đào tạo nghề nào còn cao, trình độ tay nghề của người lao động còn thấp, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài/người lao động di cư trong nước còn gặp nhiều khó khăn, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của các nhóm đối tượng còn hạn chế và tiếp tục đẩy mạnh thực hiện và nâng cao hiệu quả 03 Chương trình mục tiêu quốc gia: giảm nghèo bền vững, nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Toàn cảnh phiên thảo luận

THẢO LUẬN BÀN TRÒN

Sau phần trình bày tham luận, các đại biểu bước vào phiên thảo luận tìm giải pháp thúc đẩy việc thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động, tạo động lực phục hồi sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.

Phiên thảo luận bắt đầu dưới sự điều hành của Viện trưởng Viện Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, PGS.TS. Bùi Văn Huyền.

Tham dự thảo luận có: Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương; Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Lê Văn Thanh; Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà; Chuyên gia kinh tế cao cấp của UNDP tại Việt Nam Jonathan Picus.

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương: Công tác chỉ đạo của Chính phủ với các Bộ, ngành triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 khá kịp thời

Phát biểu tại phiên thảo luận chuyên đề 2, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương khẳng định: Ngay sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết số 43/2022/QH15, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11 về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, trong đó nêu rõ mục tiêu, nhiệm vụ với 17 nhóm nhiệm vụ liên quan đến ban hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hướng dẫn triển khai Chương trình. 

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương

Công tác chỉ đạo của Chính phủ với các Bộ, ngành triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 khá kịp thời. Tuy nhiên, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương cho biết, các nhóm nhiệm vụ khác nhau có tiến độ khác nhau, có nhóm triển khai được ngay song có một số nhóm cần khá nhiều thời gian để làm công tác chuẩn bị, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Cụ thể, theo Thứ trưởng Trần Quốc Phương, có 3 nhóm nhiệm vụ, nhóm chính sách:

Nhóm thứ nhất là các nhiệm vụ có kinh nghiệm triển khai trong năm 2020 – 2021 và bước vào 2022 có thể làm ngay, như miễn giảm thuế. Thực tế, ngay từ tháng 1/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2022/NĐ-CP quy định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết số 43 của Quốc hội. Cách thực thực hiện mang tính hạch toán nên giải ngân tức thì theo từng tháng.

Nhóm thứ hai là các nhiệm vụ liên quan việc chuẩn bị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tạo cơ sở pháp lý để triển khai. Chính phủ đã giao nhiệm vụ cụ thể cho đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp, trong đó cần thời gian nhất định để ban hành.

Về mặt nội dung cũng cần có sự thống nhất giữa các Bộ, ngành liên quan, bảo đảm đúng theo quy định, tạo điều kiện thuận lợi nhất để triển khai nhanh và hiệu quả. Cụ thể, văn bản cấp Nghị định đã ban hành Nghị định số 36/2022/NĐ-CP ngày 30/5/2022 về hỗ trợ lãi suất đối với các khoản vay tại ngân hàng chính sách xã hội; văn bản cấp Quyết định có Quyết định số 17/2022/QĐ-TTg ngày 28/7/2022 về phân cấp triển khai dự án đầu tư công. Thực tế đã triển khai và có kết quả cụ thể.

Nhóm thứ ba là các nhiệm vụ có tiến độ chậm hơn vì đòi hỏi công tác và thời gian chuẩn bị tương đối dài, khá khó. Đó là chính sách về đầu tư công, liên quan gói 176.000 tỷ đồng. Nguyên nhân một phần là do bối cảnh khách quan về tình hình dịch bệnh. Với nhóm nhiệm vụ này chia làm 2 khía cạnh. Về khía cạnh nguồn vốn, Nghị quyết 43/2022/QH15 đã tạo cơ chế hết sức linh hoạt.

Về khía cạnh dự án, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương khẳng định, đây là nhiệm vụ khá khó vì liên quan trình tự thủ tục. Tại Kỳ họp cuối tháng 8, Chính phủ đã trình 94 dự án, vốn đạt hơn 140.000 tỷ đồng. Còn lại hơn 20.000 tỷ đồng đối với nhiệm vụ dự án còn lại, Chính phủ tiếp tục chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương hoàn thiện thủ tục. Ngay sau khi hoàn thiện sẽ tiếp tục triển khai. Đây là nhiệm vụ Chính phủ hết sức quan tâm và chỉ đạo sát sao. Chính phủ đã thành lập Ban chỉ đạo Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế để giám sát, chỉ đạo kịp thời.

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương nhấn mạnh, qua 8 tháng đã giải ngân đạt 56.000 tỷ đồng trong tổng số hơn 300.000 tỷ đồng. Nhìn chung, chỉ đạo của Chính phủ để triển khai Chương trình là khá kịp thời, mặc dù còn một số khó khăn, vướng mắc

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Thanh Hà: Mục tiêu trọng tâm là triển khai có hiệu quả chương trình hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp và người vay vốn

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Thanh Hà cho biết, theo chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã cố gắng điều hành chính sách tiền tệ đảm bảo mục tiêu quan trọng nhất là ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Trong bối cảnh diễn biến của kinh tế tài chính toàn cầu rất phức tạp, lãi suất và tỷ giá trong nước tương đối ổn định.

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhấn mạnh, một trong những mục tiêu trọng tâm của ngành ngân hàng trong năm nay là thực hiện triển khai có hiệu quả chương trình hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp và cho người vay vốn tại ngân hàng thương mại. Về nội dung này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã triển khai nhanh chóng nhiều biện pháp. Trước hết, về hoàn thiện hành lang pháp lý, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phối hợp với các Bộ trình Chính phủ ban hành Nghị định 31, cùng ngày ban hành Thông tư 03 hướng dẫn các ngân hàng thương mại triển khai đến các đối tượng vay vốn. Sau đó, Ngân hàng Nhà nước đã thu thập thông tin đăng ký từ các ngân hàng thương mại để cùng với các Bộ tiến hành đề xuất phân bổ ngân sách 40.000 tỷ trong 2 năm, năm nay dự kiến phân bổ 16.000 tỷ, năm 2023 dự kiến phân bổ 24.000 tỷ.

Sau khi có phân bổ ngân sách, Nhà nước đã tiến hành triển khai, hướng dẫn các ngân hàng thương mại và đã xác định rõ hơn 20 vấn đề cần phải giải đáp cho các ngân hàng thương mại trong quá trình triển khai, chủ yếu là liên quan đến đối tượng, về phương thức, về cách đăng ký, về cách lập dự toán rồi cũng như là rút vốn, hỗ trợ quyết toán. Ngoài ra, các ngân hàng cũng được yêu cầu phải tập trung mọi nguồn lực cao, triển khai nhanh và hỗ trợ kịp thời đến người vay vốn.

Cho rằng tuy đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên việc tổ chức triển khai trong thực tế chưa đạt được yêu cầu đặt ra, chưa đáp ứng được kỳ vọng, vẫn còn gặp phải các khó khăn, vướng mắc, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho rằng cần tập trung giải quyết một số nhóm khó khăn, vướng mắc. Trước hết là khó khăn về đối tượng được hỗ trợ lãi suất. Nhiều trường hợp khách hàng không hoạt động đơn ngành, mà hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, gây khó khăn cho việc xác định phạm vi ưu tiên, hỗ trợ.

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng nhấn mạnh, cần tháo gỡ khó khăn về tiêu chí đánh giá, khách hàng phải có khả năng, có phương án kinh doanh, có khả năng phục hồi. Ở đây, thời điểm và quy cách, phương thức đánh giá, thẩm định của Ngân hàng thương mại, ngân hàng cho vay có sự khác biệt với việc đánh giá của các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán.

Để giải quyết những khó khăn này, Ngân hàng Nhà nước sẽ triển khai các nhóm, tổ liên ngành để khảo sát tình hình thực tế triển khai tại các địa phương, tại các ngân hàng thương mại để nắm bắt và có giải đáp thắc mắc cũng như là giải quyết các vướng mắc trong thực tế.

Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Lê Văn Thanh: 6 giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Thảo luận bàn tròn tại Phiên thảo luận 2 trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế - xã hội Việt Nam 2022, Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Lê Văn Thanh cho biết, trong những năm qua Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đảm bảo an sinh xã hội cho người lao động. Chất lượng nguồn nhân lực thời gian qua tuy đã được tập trung đẩy mạnh nhưng vẫn còn nhiều hạn chế.

Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Lê Văn Thanh

Để phát triển kinh tế xã hội bền vững phải phát triển chất lượng nguồn nhân lực có chất lượng, có kỹ năng và đây cũng là một trong những đột phá chiến lược để phát triển đất nước trong thời gian tới và đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 13. Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho biết, thời gian qua chúng ta đã và đang tập trung để có nhiều giải pháp để đẩy mạnh nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực, trong đó có 6 giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, đẩy nhanh thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong đó có chất lượng giáo dục đào tạo mà trọng tâm đó là chuyển đổi số, hiện đại hóa cơ sở vật chất, thiết bị, thay đổi phương thức giáo dục đào tạo, nhất là giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. 

Thứ hai, đảm bảo quy mô, cơ cấu ngành nghề đào tạo cho phục hồi và phát triển kinh tế xã hội của đất nước. 

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút các nhà đầu tư, cả doanh nghiệp, người sử dụng lao động tích cực tham gia vào hoạt động đào tạo, phát triển kỹ năng nghề. 

Thứ tư, xây dựng các mô hình gắn kết với giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp và thị trường lao động theo từng vùng, từng địa phương phù hợp với từng nhóm đối tượng, trong đó chú trọng đối tượng đặc thù.

Thứ năm, đẩy mạnh dự báo nhu cầu về đào tạo nghề nghiệp, đặc biệt là ngành nghề khoa học và kỹ thuật công nghệ, trong đó ưu tiên công nghệ thông tin, công nghệ mới, công nghệ cao.

Thứ sáu, sắp xếp tổ chức mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt, hiện đại, dễ tiếp cận đa dạng về loại hình, hình thức tổ chức, phân bổ hợp lý cả về cơ cấu ngành, trình độ vùng, miền và đủ khả năng đáp ứng nhu cầu về đào tạo nhân lực chất lượng cao.

Chuyên gia kinh tế cao cấp của UNDP tại Việt Nam Jonathan Picus: Cần cơ chế phòng vệ cho khủng hoảng kinh tế trong tương lai

Từ góc nhìn của UNDP, Chuyên gia kinh tế cao cấp của UNDP tại Việt Nam Jonathan Picus nhận thấy, một trong những vấn đề đáng quan ngại trong thời kì đại dịch cũng như phục hồi sau đại dịch là sự phụ thuộc rất lớn về việc hoãn thuế để kích thích hoạt động kinh doanh.

Chuyên gia kinh tế cao cấp của UNDP tại Việt Nam Jonathan Picus

Bên cạnh đó, Chuyên gia kinh tế cao cấp của UNDP tại Việt Nam cũng nêu rõ, tiêu dùng nội địa đóng góp 60% vào tăng trưởng GDP, do đó nếu không kích thích được tiêu dùng nội địa sẽ dẫn đến sụt giảm GDP. Thực tế, năm 2021 chi tiêu giảm 21%, dẫn tới suy giảm GDP quý III. 

Để phục hồi và phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay, Chuyên gia kinh tế cao cấp của UNDP tại Việt Nam Jonathan Picus cho rằng, cùng với những biện pháp về tài khóa, tiền tệ cần quan tâm đến chi tiêu của người dân. Khi người dân được hưởng lợi sẽ kích thích chi tiêu; từ đó các doanh nghiệp hưởng lợi từ vòng quay mua sắm và tiếp tục tăng cường sản xuất kinh doanh. Đồng thời gói tài khóa đầu tiên Việt Nam cần ưu tiên thực hiện là kích thích chi tiêu; gia tăng chi tiêu thị trường nội địa.

Chuyên gia kinh tế cao cấp của UNDP tại Việt Nam Jonathan Picus cũng cho rằng, một biện pháp để kích thích chi tiêu hộ gia đình là chuyển khoản tiền mặt cho người dân. Các chính sách hoãn, giảm thuế không đem lại hiệu quả cấp số nhân cao bằng việc trợ cấp tiền mặt trực tiếp cho các đối tượng mất việc làm. Tuy nhiên, theo ông, Việt Nam đang gặp khó khăn chuyển tiền mặt quy mô lớn một cách nhanh chóng, hiệu quả.

Qua bài học từ năm 2021, Chuyên gia kinh tế cao cấp của UNDP tại Việt Nam Jonathan Picus lưu ý Việt Nam cần có cơ chế phòng vệ cho khủng hoảng trong tương lai. Việt Nam có thể xem xét tăng cường các biện pháp hỗ trợ về bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội cho trẻ em, hỗ trợ đối tượng yếu thế, đối tượng chính sách xã hội.

Phó Chủ tịch VCCI Bùi Trung Nghĩa: 8 nhóm giải pháp hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp phục hồi và phát triển

Phát biểu tại thảo luận bàn tròn, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Bùi Trung Nghĩa cho biết thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội và Nghị quyết 43 của Quốc hội, các chính sách hỗ trợ đối với doanh nghiệp có thể phân loại hai nhóm:

Thứ nhất, nhóm chính sách hỗ trợ về giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp, người lao động đó là giảm phí, thuế, hỗ trợ lãi suất, hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động.

Thứ hai, nhóm giải pháp tháo gỡ các rào cản về thể chế, cơ chế, chính sách, cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, điều hành và quản lý nhà nước và chính sách điều hành hài hòa, hợp lý và hiệu quả các chính sách nhằm đảm bảo giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ quá trình phục hồi kinh tế.

Ông Bùi Trung Nghĩa cho biết, cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao các chính sách và giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi, đặc biệt là chính sách về giảm chi phí đầu vào, nguyên liệu sản xuất, sử dụng hiệu quả Qũy bình ổn để hạn chế tăng giá, giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, chính sách ổn định thị trường giá cả, ngoại tệ.

Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Bùi Trung Nghĩa

Tuy nhiên, số vốn giải ngân các gói hỗ trợ so với kế hoạch còn chậm, nguyên nhân do điều kiện, thủ tục phức tạp, trong đó thủ tục vay vốn hỗ trợ lãi suất chưa thực sự phù hợp và chưa đáp ứng nhu cầu. 

Để tiếp tục tạo điều kiện phục hồi kinh tế xã hội những tháng cuối năm 2022 và năm 2023, ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch VCCI cho biết, VCCI đã đề xuất 8 nhóm giải pháp lớn:

Thứ nhất, tập trung hoàn thiện khung khổ pháp lý về đầu tư và kinh doanh.

Thứ hai, tiếp tục giảm chi phí cho doanh nghiệp, như các phương án giảm thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt với xăng dầu; giảm chi phí tiền điện  – một trong những chi phí đầu vào quan trọng của doanh nghiệp.

Thứ ba, có biện pháp tháp gỡ khó khăn, vướng mắc trong tiếp cận khoản vốn vay ưu đãi cho doanh nghiệp.

Thứ tư, có giải pháp hỗ trợ kịp thời một số ngành đang phục hồi mạnh như ngành du lịch, dịch vụ, xuất khẩu, hoạt động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất đang thiếu lao động. Quốc hội và Chính phủ cần thực hiện goám sát chương trình đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nhân lực.

Thứ năm, xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý, tạo thuận lợi cho sự ra đời của mô hình kinh doanh mới, khuyến khích đổi mới sáng tạo, bảo đảm cân bằng hài hòa lợi ích các bên; bắt kịp xu hướng tăng trưởng xanh bằng cách thúc đẩy kinh tế tuần hoàn

Thứ sáu, đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp. Cần cắt giảm một số thủ tục còn phiền hà như đất đai, thuế, bảo hiểm xã hội, xây dựng, quản lý thị trường, giao thông, lao động… nhằm bảo đảm yêu cầu hoạt động liên tục và khả năng thích ứng của doanh nghiệp.

Thứ bảy, cần có chương trình hành động cụ thể, thiết thực để nâng cao khả năng tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA), qua đó tăng cường các hoạt động xuất nhập khẩu, đáp ứng sản xuất trong nước, xử lý vướng mắc chính sách liên quan quy tắc xuất xứ trong thực hiện các FTA.

Thứ tám, nâng cao hơn nữa hiệu quả thực thi của bộ máy chính quyền các cấp.

Ông Bùi Trung Nghĩa nhấn mạnh, giải pháp thứ 6 là một trong những giải pháp thiết thực, quan trọng nhất để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp. Đây cũng là giải pháp căn bản lâu dài, hiệu quả nhất về chi phí, cũng là nhiệm vụ chính trị mà Chính phủ đã giao các bộ, ngành thực hiện liên tục từ năm 2014 đến nay, thông qua các Nghị quyết số 19 và Nghị quyết số 02 của Chính phủ.

TS.Trần Du Lịch - Đại biểu Quốc hội khóa XIII: Phải ổn định được lạm phát, giá cả, dự trữ ngoại hối dòng tiền

Phát biểu tại phiên thảo luận chuyên đề 2, TS.Trần Du Lịch nhấn mạnh, Nghị quyết 43 của Quốc hội đã thể hiện tinh thần “ứng vạn biến” rất nhanh, sớm; tiếp theo là Nghị quyết 11 của Chính phủ mang tính chiến lược quan trọng cho giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, quyết sách của Quốc hội, Chính phủ rất đúng, rất kịp thời nhưng khi vận hành “đụng” trùng trùng điệp điệp từ thông tư đến các quy định. Quyết sách Quốc hội đưa ra phải cấp cứu” đáng lẽ xe phải có đèn chạy ưu tiên nhưng tài xế cứ chạy từ từ, do đó, từ quyết sách vào thực tiễn còn chậm”.

TS.Trần Du Lịch - Đại biểu Quốc hội khóa XIII

TS.Trần Du Lịch cho rằng, các doanh nghiệp bị ảnh hưởng sau đại dịch có 3 loại: thứ nhất là mở cửa trở lại là hoạt động liền; thứ 2 là khó khăn về vốn, được hỗ trợ tín dụng hoạt động lại được; thứ 3 là các doanh nghiệp mất thị trường, thiếu lao động và nợ chồng chất. 

Ngoài ra, một thành phần bị ảnh hưởng rất nặng nề là 350.000 hộ kinh doanh cá thể thương mại tại Tp. Hồ Chí Minh, họ đóng góp rất lớn cho GDP nhưng không thể vay được tiền và khả năng phục hồi rất chậm. Bên cạnh đó, do tắc nghẽn thủ tục nên một số lĩnh vực như ngành xây dựng phục hồi không được. Vì vậy, cần nhanh chóng rà lại hệ thống chính sách này triển khai thế nào.

Theo đó, thứ nhất, nhiều doanh nghiệp cần vốn nhưng hấp thụ vốn rất khó khăn, không hấp thụ được. Do đó, phải gỡ khó khăn trong hấp thụ vốn mới phục hồi phát triển được.

Thứ hai, phải ổn định được lạm phát, giá cả, dự trữ ngoại hối dòng tiền. Từ nay cuối năm, dư địa tín dụng còn 4% phải đưa vào được những nơi cần đưa như Nghị quyết 43 của Quốc hội và Nghị quyết 11 của Chính phủ đã nêu. 

Thứ ba là phối hợp tài chính tiền tệ, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, tránh phát hành trái phiếu trong kho bạc. Hiện nay, thị trường tài chính Việt Nam, tiền tệ và vốn trung dài hạn qua chứng khoán. Từ trước đến nay chủ yếu nguồn vốn dựa vào các ngân hàng thương mại cả vốn trung dài hạn. Gần đây có sự cố thị trường, làm sao trái phiếu doanh nghiệp phát triển gánh cho các ngân hàng thương mại.

Đối với an sinh xã hội, TS. Trần Du Lịch cho rằng, hiện chỉ có 8% lao động ở các khu công nghiệp có nhà ở, còn lại sống bấp bênh. Do đó, cần xây nhà công nhân, xây nhà xã hội cho người lao động. Đây là giải pháp căn cơ phát triển bền vững chứ không phải chỉ là hỗ trợ tiền thuê nhà tạm thời như giai đoạn vừa qua.

Phát biểu tại chuyên đề 2, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nêu một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ trao đổi tại phiên thảo luận

Liên quan đến thị trường lao động, Chủ tịch Quốc hội chia sẻ, qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và thực tế tại Việt Nam cho thấy số người mất việc thấp, tỉ lệ thất nghiệp thấp nhưng tỉ lệ người tham gia thị trường lao động cũng thấp. Một số ngành thiếu cục bộ lao động. Chủ tịch Quốc hội đặt vấn đề phải chăng một bộ phận lao động đang khu trú ở đâu đó và chưa sẵn sàng tham gia thị trường lao động sau đại dịch.

Nhấn mạnh đây là vấn đề không chỉ cá nhân mình đặc biệt quan tâm mà cả các cơ quan đều cần tìm ra nguyên nhân, trả lời cho câu hỏi một bộ phận lao động đã đi đâu, Chủ tịch Quốc hội cho rằng qua thảo luận, trao đổi nhận diện thêm vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu cũng là kết quả của Diễn đàn.

Liên quan đến thực hiện các gói chính sách hỗ trợ, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết, bên cạnh các nhóm chính sách gián tiếp, Việt Nam cũng thực hiện hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt với quy mô tương đối lớn như chi từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, chi trực tiếp thông qua khoản trợ cấp Chính phủ và chính quyền địa phương...để chi hỗ trợ người lao động, nhóm người yếu thế, người có thu nhập thấp... Chủ tịch Quốc hội nêu vấn đề, ở đây cần đánh giá tỉ trọng phương pháp hỗ trợ không chỉ đơn thuần là đánh giá theo Nghị quyết 43 của Quốc hội và Nghị quyết 11 mà đặt trong tổng thể các giải pháp đã áp dụng từ đầu 2022 đến nay, cũng như các chính sách ban hành từ cuối 2021 và thực hiện trong năm 2022. Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh đây là vấn đề cần đánh giá kĩ lưỡng hơn, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế ở mức độ nào đó phù hợp với Việt Nam.

Phó Giám đốc Thường trực Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Nguyễn Duy Bắc kết luận phiên thảo luận chuyên đề 2 

Phát biểu kết luận, Phó Giám đốc Thường trực Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Nguyễn Duy Bắc nêu rõ, tại Phiên hội thảo chuyên đề 2 với chủ đề “Thúc đẩy việc thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động, tạo động lực phục hồi sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững”, các đại biểu đã nghe 3 tham luận chính về triển khai các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thực phương trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội; nâng cao năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của doanh nghiệp trong bối cảnh mới; mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội cho người dân, thúc đẩy việc làm bền vững trong bối cảnh phục hồi và phát triển kinh tế xã hội.

Bên cạnh đó, hội thảo cũng được nghe nhiều ý kiến trao đổi, thảo luận của các đại biểu về quá trình triển khai cũng như tác động và hiệu quả của chương trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội.

Về những kết quả trong hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động, tạo động lực phục hồi sản xuất kinh doanh, phát triển bền vững trong thời gian qua, Phó Giám đốc Thường trực Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Nguyễn Duy Bắc cho biết, các chính sách được ban hành kịp thời, linh hoạt, cơ bản phù hợp với diễn biến và tác động của dịch bệnh cũng như tình hình kinh tế, xã hội của đất nước và bối cảnh quốc tế; các chính sách hỗ trợ thông qua việc giảm nhẹ nghĩa vụ tài chính, tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng và đảm bảo khả năng duy trì sản xuất cho doanh nghiệp có hiệu quả cao; chính sách đưa ra đã được tính toán cẩn trọng, phối hợp chặt chẽ trong triển khai nên không ảnh hưởng lớn đến các cân đối chủ chốt của nền kinh tế, đảm bảo thị trường tài chính tiền tệ phát triển an toàn, lành mạnh. Các chỉ số kinh tế vĩ mô được giữ vững ổn định, trong đó vẫn đảm bảo dư địa cho phục hồi tăng trưởng kinh tế. 

(Cổng thông tin điện tử Quốc hội)

Các bài viết khác