BÁO CÁO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG: CHUYỂN TỪ BỊ ĐỘNG SANG CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG

27/04/2021 11:02

Thực hiện quy định tại Điều 134 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 về trách nhiệm báo cáo công tác bảo vệ môi trường hàng năm, tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIV, Chính phủ đã có báo cáo gửi đến Quốc hội về công tác bảo vệ môi trường năm 2020.

Giai đoạn 2016 - 2020, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo mạnh mẽ, quyết liệt công tác bảo vệ môi trường (BVMT), nhất là hoàn thiện chính sách, pháp luật và tăng cường hiệu quả hoạt động BVMT, tập trung giải quyết điểm nóng, các vấn đề môi trường lớn, bức xúc được đại biểu Quốc hội, cử tri cả nước quan tâm, kiến nghị, quyết tâm tạo sự chuyển biến mới trong công tác BVMT.

Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIV

Đánh giá chung về kết quả đạt được, thời gian qua Chính phủ đã chuyển từ bị động, lúng túng sang chủ động phòng ngừa, ứng phó giải quyết các vấn đề môi trường phát sinh; giám sát các tổ hợp dự án, cơ sở sản xuất kinh doanh công nghiệp quy mô lớn, nguy cơ ô nhiễm môi trường cao, đáp ứng đủ điều kiện đi vào vận hành chính thức, có đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội.

Hình thành được phương thức phối kết hợp giữa Trung ương, địa phương trong kiểm soát, giám sát, giải quyết sự cố, ô nhiễm môi trường, các vấn đề môi trường phát sinh. Các cơ quan quản lý môi trường ở Trung ương và địa phương đã có sự phối hợp nhịp nhàng, thống nhất trong triển khai nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường theo hướng rõ trách nhiệm của Chủ tịch UBND các cấp chịu trách nhiệm toàn diện về các vấn đề môi trường trên địa bàn. Đặc biệt đã phối hợp để tập trung quản lý tốt 20-30% cơ sở có nguồn thải lớn, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao nhưng gây ra 70-80% các vấn đề môi trường để khoanh vùng, áp dụng các biện pháp phòng ngừa sự cố, giám sát chặt chẽ việc xả thải, kiên quyết xử lý các đối tượng vi phạm, đảm bảo các đối tượng này thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường. Tỷ lệ các cơ sở vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường có xu hướng giảm đáng kể: năm 2015 tỷ lệ này là 65,6%, năm 2016 là 40,7%, năm 2017 là 36,5%, năm 2018 là 36,7%, năm 2019 là 30,2% và năm 2020 là 24,9% (giảm 2,6 lần so với năm 2015). Qua đó, chỉ số hài lòng của người dân đối với công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tăng dần qua từng năm.

Thể chế hóa kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, cải cách thể chế môi trường của Việt Nam tiệm cận hài hòa với chính sách pháp luật bảo vệ môi trường trên thế giới, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Tập trung chỉ đạo, kịp thời điều chỉnh chính sách, chiến lược phát triển và BVMT theo kịp những diễn biến nhanh và phức tạp của môi trường thông qua việc ban hành hàng loạt văn bản chỉ đạo quan trọng. Thiết lập hành lang pháp lý đồng bộ trong bảo vệ đa dạng sinh học, quản lý sinh vật biến đổi gen, phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất. Bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tiếp tục được kiện toàn từ Trung ương đến địa phương.

Công tác quản lý chất thải (sinh hoạt, nguy hại, nước thải đô thị, nông thôn…) được triển khai đồng bộ, có lộ trình phù hợp đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Các địa phương đã hoàn thành nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn (CTR) tập trung, một số thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đã đầu tư và xây dựng các khu liên hợp xử lý CTR có quy mô lớn. Trong 5 năm qua, tỷ lệ nước thải sinh hoạt được thu gom, xử lý, tỷ lệ CTR sinh hoạt được thu gom, tái chế liên tục tăng; tỷ lệ phải chôn lấp giảm; chất thải nguy hại được kiểm soát, quản lý tốt hơn thông qua việc kiểm soát chặt chẽ nguồn phát, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý.

Công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học được thực hiện tốt. Trong 5 năm qua đã thành lập mới 09 Khu bảo tồn, 07 cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, 03 hành lang đa dạng sinh học theo quy định của Luật Đa dạng sinh học. Triển khai bảo vệ, phát triển 172 khu bảo tồn thiên nhiên; bảo vệ nguồn gen, hệ động thực vật đặc hữu. Các loài hoang dã nguy cấp được đánh giá và đưa vào Sách Đỏ, chú trọng bảo tồn thông qua việc lập các danh mục với mức độ nguy cấp và ưu tiên bảo vệ để quy định chế độ quản lý tương ứng. Nhiều chương trình bảo tồn loài đã được phê duyệt và triển khai.

Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường của người dân, doanh nghiệp; thu hút được sự hưởng ứng rộng rãi trong phòng chống giảm thiểu rác thải nhựa. Tỷ lệ người dân ủng hộ không dùng túi nilong ở các địa phương theo khảo sát của PAPI ở mức 74-94%, tỷ lệ người dân quan ngại về môi trường giảm từ 12,53% xuống còn 8,85%.

Nhìn chung, xu hướng suy giảm nhanh chất lượng môi trường được kiềm chế so với các năm trước đây; nhiều khu vực ô nhiễm tồn lưu được xử lý, cải tạo kiểm soát, đặc biệt các điểm ô nhiễm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật; các nguồn ô nhiễm, các dự án lớn tiềm ẩn nguy cơ cao gây ô nhiễm, sự cố môi trường được kiểm soát chặt chẽ, hoạt động an toàn, vận hành ổn định; xuất hiện nhiều mô hình đô thị, nông thôn, khu công nghiệp, làng nghề, cơ sở sản xuất sinh thái, thân thiện với môi trường.

Mặc dù hoạt động kiểm soát nguồn ô nhiễm, quản lý CTR và chất thải nguy hại đã được thực hiện chặt chẽ, công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học được tăng cường, mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học trong tầm kiểm soát. Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần tập trung giải quyết, xử lý.

Theo đó, ô nhiễm môi trường một số nơi có nguy cơ vượt ngưỡng chịu đựng của các hệ sinh thái, ảnh hưởng lên nhiều mặt đời sống kinh tế - xã hội, điều kiện sống và sức khỏe của Nhân dân. Các nguồn ô nhiễm môi trường gia tăng nhanh về số lượng, quy mô và mức độ tác động xấu lên môi trường, làm cho môi trường đất, nước, không khí nhiều nơi bị ô nhiễm, có nơi đã đến mức nghiêm trọng. Vẫn còn cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chưa được xử lý triệt để, các cơ sở công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao nằm xen lẫn trong khu dân cư chậm được di dời. Nguy cơ dịch chuyển, hình thành mới các hoạt động sản xuất gây ô nhiễm môi trường từ đô thị về các khu vực nông thôn. Ô nhiễm ở các làng nghề tồn tại lâu dài, chưa được giải quyết triệt để. Một số kết quả đạt được ban đầu còn mang tính cục bộ, thiếu bền vững.

Ô nhiễm không khí vẫn còn diễn biến phức tạp, nhất là ô nhiễm bụi mịn tại các Tp lớn như Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh có xu hướng gia tăng tại một số thời điểm trong ngày và một số ngày trong năm.

Ô nhiễm môi trường nước đặc biệt là các nguồn cấp nước phục vụ sinh hoạt do nước thải đô thị, nước thải từ các cụm công nghiệp, làng nghề, hoạt động chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản phát sinh ngày càng lớn, hầu hết chưa qua xử lý hoặc xử lý không đạt quy chuẩn kỹ thuật, xả ra môi trường.

Lượng CTR, chất thải nguy hại phát sinh ngày lớn, cơ cấu thành phần phức tạp, trong khi đó, công tác quản lý rác thải sinh hoạt còn nhiều hạn chế, phần lớn được xử lý theo hình thức chôn lấp, tỷ lệ CTR sinh hoạt được giảm thiểu hoặc tái chế tại các cơ sở xử lý chưa cao; việc phân loại, thu gom, xử lý chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động sinh hoạt hằng ngày vẫn chưa triển khai thực hiện ở hầu hết các tỉnh, thành phố.

Công tác xác định, khoanh vùng, xử lý, phục hồi các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái thực hiện chậm. Tình trạng xử lý ô nhiễm môi trường tại các khu vực khai thác khoáng sản, khu chôn lấp chất thải… còn chưa được quan tâm thỏa đáng.

Cùng với đó, đa dạng sinh học tiếp tục bị suy giảm, cân bằng sinh thái có nguy cơ bị ảnh hưởng. Khi mà, quy mô, chất lượng và tính đa dạng của hệ sinh thái tự nhiên tiếp tục suy giảm; việc thành lập mới các khu bảo tồn thiên nhiên và mở rộng diện tích bảo tồn thiên nhiên còn chậm; các loài động thực vật hoang dã tiếp tục suy giảm; vẫn còn các nguy cơ từ sinh vật ngoại lai xâm hại và rủi ro từ sinh vật biến đổi gen. Tình trạng cháy rừng, chặt phá rừng tăng, gây thiệt hại nghiêm trọng đến diện tích rừng và độ che phủ của thảm thực vật.

Các hệ sinh thái tự nhiên bị thu hẹp diện tích tích do chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Rừng nguyên sinh chỉ còn rất ít, bị chia cắt và cô lập thành những khu nhỏ, phân bố rải rác ở một số khu vực như Tây Nguyên, Tây Bắc nên khó có cơ hội phục hồi hoàn toàn. Chặt phá rừng tự nhiên, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, mặt nước làm nơi cư trú của động vật hoang dã bị thu hẹp hoặc mất đi, nhất là đối với các loài có kích thước lớn như hổ, voi hoặc loài di chuyển nhiều như chim, các loài cá di cư.

Các hệ sinh thái sông, hồ, đầm phá cũng đang bị khai thác quá mức, chịu áp lực nặng nề từ các dự án phát triển hạ tầng lớp như ngăn đập phục vụ nhu cầu thủy lợi và thủy điện, dẫn đến mất môi trường sống của nhiều loài thủy sinh và làm suy giảm chức năng sinh thái. Các dòng sông, vùng đầm phá bị thay đổi dẫn đến mất chức năng điều tiết nước đã gây xói lở, nhiễm mặn, cạn kiệt dòng chảy, v.v. làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân và nhiều loài sinh vật. Các hệ sinh thái biển như rừng ngập mặn, rạn san hô, cỏ biển và đa dạng sinh học đang bị suy thoái, thu hẹp diện tích. Với tình trạng săn bắt, buôn bán, tiêu thụ động, thực vật hoang dã tiếp tục diễn biến như hiện nay, số lượng loài nguy cấp, quý, hiếm bị đe dọa tăng lên.

Chính phủ cho rằng nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trên xuất phát từ nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và người dân về BVMT chưa đầy đủ, chưa chuyển thành ý thức và hành động cụ thể là thách thức đối với công tác BVMT

Vẫn còn tư tưởng ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế, tập trung thu hút đầu tư, xem nhẹ yêu cầu BVMT. Ý thức về BVMT vẫn chưa thành thói quen, nếp sống của nhân dân. Ý thức chấp hành Luật BVMT và giữ gìn vệ sinh môi trường của các hộ sản xuất kinh doanh, nhất là các hộ sản xuất kinh doanh thuộc các làng nghề còn kém, trách nhiệm về BVMT của nhiều nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh còn thấp, chưa chủ động, tự giác thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ BVMT, phần lớn vẫn chạy theo lợi nhuận, coi nhẹ BVMT.

Tổ chức bộ máy còn chưa phù hợp, tương xứng; chức năng, nhiệm vụ chồng chéo, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn thấp; công tác tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường còn hạn chế

Chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước, huy động các nguồn lực trong xã hội còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu. Khoa học và công nghệ chưa có nhiều đóng góp thiết thực, đột phá cho công tác BVMT

Hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường còn thiếu chủ động chưa tranh thủ được tối đa, chưa nắm bắt kịp thời các cơ hội huy động hỗ trợ tài chính và chuyển giao công nghệ về BVMT. Khai thác nguồn hỗ trợ kỹ thuật, chuyên gia và kinh nghiệm quốc tế chưa hiệu quả. Việc tham gia và triển khai hoạt động tại các cơ chế hợp tác quốc tế về môi trường tại các cơ chế đa phương còn mạng tính thời điểm, cục bộ; chưa xây dựng được một chiến lược bài bản, lâu dài. Năng lực thực hiện các cam kết, điều ước quốc tế về môi trường còn hạn chế. Năng lực đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn quốc tế về môi trường của các doanh nghiệp còn thấp và hạn chế.

Bảo Yến