THỐNG NHẤT MẪU QUY CHẾ LÀM VIỆC CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC VÀ CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI

30/08/2021 19:32

Ngày 27/8 vừa qua, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã ký ban hành Nghị quyết số 283/2021/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về ban hành Quy chế làm việc mẫu của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Đây là cơ sở để Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội xây dựng Quy chế làm việc phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn, đặc điểm, tình hình cụ thể của từng cơ quan.

 

Tại phiên họp thứ 2, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến và biểu quyết thông qua Nghị quyết về ban hành Quy chế làm việc mẫu của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội

Quy chế làm việc mẫu của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội có 5 chương và 37 điều. Trong đó, Chương 1 quy định chung về phạm vi, đối tượng điều chỉnh; tổ chức của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và nguyên tắc làm việc của Hội đồng Dân tộc,  Ủy ban của Quốc hội

Chương 2 về nhiệm vụ, quyền hạn quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội và thành viên của Hội đồng, Ủy ban; Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội; nhiệm vụ, quyền hạn của Tiểu ban và Nhóm nghiên cứu; nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, của Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Phó Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội; nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy viên Thường trực, của Ủy viên Chuyên trách và các Ủy viên khác của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội; về nhiệm vụ và trách nhiệm của thành viên Tiểu ban, Nhóm nghiên cứu

Chương 3 về phương thức hoạt động quy định về hình thức hoạt động của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội; Phiên họp toàn thể của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội; Quyết định tổ chức phiên họp toàn thể; Chủ tọa, thành phần, hồ sơ tài liệu, biên bản phiên họp toàn thể; Việc lấy ý kiến của thành viên Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội bằng văn bản; Việc ban hành văn bản của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội; Hoạt động phối hợp của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội.

Hoạt động của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội được thực hiện thông qua phiên họp toàn thể, các hoạt động giám sát, khảo sát, thẩm tra, giải trình và các hoạt động khác theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Các phiên họp toàn thể có thể họp trực tiếp tập trung  hoặc họp trực tuyến trong trường hợp cần thiết.

Đặc biệt, Quy chế khuyến khích tổ chức các hoạt động trực tuyến phù hợp với các nội dung, hoàn cảnh cụ thể nhưng phải bảo đảm chất lượng, hiệu quả.

Việc tổ chức phiên họp toàn thể của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phải được thông báo công khai trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội, trừ trường hợp tổ chức phiên họp kín.

Quy chế cũng quy định rõ hình thức hoạt động của Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban; hoạt động của Tiểu ban, Nhóm nghiên cứu; Cơ chế phân công, phối hợp, chịu trách nhiệm trong Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội; Trách nhiệm chuẩn bị các nội dung do Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội chủ trì thẩm tra, chuẩn bị ý kiến và tham gia thẩm tra, tham gia chuẩn bị ý kiến; về Phiên họp Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban; việc xử lý công văn, văn bản, đơn thư gửi đến Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội và việc ban hành văn bản của Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban.

Tại Quy chế lần này đã quy định rõ tại Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội quyết định thành lập Tiểu ban của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội theo đề nghị của Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban. Tiểu ban, Nhóm nghiên cứu hoạt động theo chế độ chuyên gia. Hoạt động của Tiểu ban, nhóm nghiên cứu có thể tiến hành thông qua các hình thức như: tổ chức nghiên cứu tư vấn; khảo sát, thu thập thông tin, các cuộc họp, hội nghị, hội thảo, tọa đàm và các hình thức khác phù hợp với điều kiện thực tế về nguồn lực, nội dung cụ thể. Tiểu ban, Nhóm nghiên cứu báo cáo với Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban về kết quả thực hiện nhiệm vụ được phân công phụ trách bằng hình thức phù hợp; phát huy vai trò chủ động của Tiểu ban, Nhóm nghiên cứu, từng thành viên Tiểu ban, Nhóm nghiên cứu nhưng phải đảm bảo nguyên tắc chịu sự điều hành của Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban.

Ngoài ra, tại Chương 3 của Quy chế cũng quy định về việc đi công tác, quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế, chế độ thông tin, báo cáo và phát ngôn báo chí, việc quản lý và sử dụng kinh phí; thẩm quyền ký văn bản của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và việc phát hành văn bản và quan hệ của Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội với các cơ quan, tổ chức hữu quan

Chương 4 về chế độ sử dụng chuyên gia, nhà khoa học, công tác viên và trách nhiệm tham mưu, giúp việc của vụ chuyên môn có quy định: Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội được mời chuyên gia, nhà khoa học, cộng tác viên là những người có kiến thức, trình độ chuyên môn phù hợp, có kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phụ trách.

Chuyên gia, cộng tác viên có thể được mời tham gia hoạt động của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Tiểu ban và Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban với những nhiệm vụ mà Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội giao, phát biểu ý kiến về những vấn đề được giao nghiên cứu tại các phiên họp, cuộc họp của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Tiểu ban khi được mời.

Cộng tác viên giữ mối liên hệ thường xuyên với Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban và có trách nhiệm thực hiện những công việc theo yêu cầu của Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội. Không được sử dụng danh nghĩa Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội khi tham gia các hoạt động khác.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Chương 5 về điều khoản thi hành có quy định Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội căn cứ Quy chế làm việc mẫu và quy định của các văn bản pháp luật có liên quan, xây dựng Quy chế làm việc phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn, đặc điểm, tình hình cụ thể của từng cơ quan.

Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội định kỳ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội về viêc thực hiện quy chế làm việc của Hội đồng, Ủy ban vào tháng 12 hằng năm.

Quá trình thực hiện Quy chế nếu có vướng mắc phát sinh hoặc có quy định, yêu cầu mới cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp thì Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội gửi ý kiến đến Trưởng Ban Công tác đại biểu tổng hợp báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

Quy chế mẫu này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký./.

Bảo Yến