VĂN KIỆN QUỐC HỘI TOÀN TẬP TẬP VII (1987-1992) Quyển 1 1987-1989

 

BÁO CÁO CÔNG TÁC CỦA HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC
TẠI KỲ HỌP THỨ NHẤT, QUỐC HỘI KHÓA VIII
*

 

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội khóa VIII,

Hội đồng Nhà nước báo cáo với Quốc hội khoá VIII về công tác của Hội đồng Nhà nước, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban thường trực của Quốc hội khoá VII, từ kỳ họp thứ 12 của Quốc hội khoá VII đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá VIII.

I- CÔNG TÁC LẬP PHÁP

Sau khi Quốc hội khoá VII thông qua Luật hôn nhân và gia đình tại kỳ họp thứ 12 (tháng 12-1986), thừa lệnh Hội đồng Nhà nước, Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước đã họp báo trong nước để công bố Luật này trên các báo, đài phát thanh, đài truyền hình ngày 09-01-1987.

Tại phiên họp ngày 28 tháng 4 năm 1987, sau khi nghe Hội đồng Bộ trưởng trình dự thảo Pháp lệnh về đất đai và nghe ý kiến Phát biểu của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội, của Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Nhà nước đã giao trách nhiệm cho Ban dự thảo của Hội đồng Bộ trưởng cùng với Uỷ ban pháp luật của Quốc hội và các cơ quan có liên quan chỉnh lý bản dự thảo Pháp lệnh này thành dự thảo Luật về đất đai để trình Quốc hội khoá VIII thảo luận và quyết định cho công bố để lấy ý kiến đóng góp của nhân dân.

II- CÔNG TÁC GIÁM SÁT

Tại phiên họp ngày 16 tháng 2 năm 1987, Hội đồng Nhà nước đã quyết định 4 vấn đề cần xem xét, kiểm tra từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1987:

1. Nghe Hội đồng Bộ trưởng báo cáo về những biện pháp thi hành Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 (khoá VI) về giải quyết những vấn đề cấp bách trong lĩnh vực phân phối, lưu thông.

2. Nghe báo cáo về kiểm điểm tình hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp từ khi có Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (tháng 6 năm 1983) đến nay.

3. Nghe báo cáo về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khoá VIII.

4. Nghe báo cáo về kiểm điểm việc thi hành Luật tổ chức Toà án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.

1. Đối với công tác của Hội đồng Bộ trưởng:

Tại phiên họp ngày 28 tháng 4 năm 1987, Hội đồng Nhà nước đã nghe Hội đồng Bộ trưởng báo cáo về việc triển khai thi hành Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 giải quyết những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông.

Hội đồng Nhà nước đã thảo luận, tán thành các chủ trương, biện pháp của Hội đồng Bộ trưởng và nhấn mạnh cần tập trung sức giải quyết vấn đề cung cấp lương thực cho các tỉnh biên giới phía Bắc, các vùng trọng điểm và giao trách nhiệm cho các Bộ, các ngành khẩn trương nghiên cứu, thảo các văn bản nhằm thể chế hoá về mặt Nhà nước những chủ trương, chính sách mà Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 đã quyết định.

2. Đối với công tác của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao:

Trong các phiên họp thường lệ của Hội đồng Nhà nước, đồng chí Chánh án Toà án nhân dân tối cao và đồng chí Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tham dự để trình bày ý kiến đối với những vấn đề có liên quan đến công tác của hai ngành Toà án, Kiểm sát.

Tại phiên họp ngày 26 tháng 5 năm 1987, Hội đồng Nhà nước đã nghe đồng chí Chánh án Toà án nhân dân tối cao, đồng chí Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và đồng chí Bộ trưởng Bộ Tư pháp báo cáo kiểm điểm việc thi hành Luật tổ chức Toà án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân từ năm 1981 đến nay.

Qua báo cáo kiểm điểm của hai ngành Toà án, Kiểm sát và Bộ Tư pháp, nổi lên một số vấn đề cần quan tâm giải quyết:

Hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước còn thiếu và chưa đồng bộ. Nói chung, việc hướng dẫn thi hành các văn bản pháp luật còn chưa kịp thời và thống nhất. Cán bộ các ngành, các cấp chưa thấu suốt quan điểm phải quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội bằng pháp luật; pháp luật chưa được thi hành nghiêm chỉnh. Việc phối hợp công tác giữa các ngành trong khối nội chính chưa thật sự chặt chẽ và chưa đáp ứng kịp tình hình. Trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất của đội ngũ cán bộ trong các ngành Kiểm sát, Toà án, Tư pháp còn nhiều yếu kém; nhiều bản án đã tuyên phải cải sửa, công tác chấp hành án còn lỏng lẻo, không nghiêm túc; việc thực hiện quyền bào chữa của bị cáo chưa được chú ý đúng mức; tính công minh của pháp luật chưa bảo đảm.

3. Hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban thường trực của Quốc hội:

- Hội đồng dân tộc đã cử đoàn đi xem xét tình hình thực hiện kết luận của Hội đồng Nhà nước tại phiên họp ngày 29 tháng 9 năm 1986 về công tác định canh, định cư ở hai tỉnh Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn.

- Uỷ ban pháp luật đã họp nhiều lần: thẩm tra Dự thảo Pháp lệnh về đất đai; góp ý kiến về chương trình xây dựng pháp luật trong 6 tháng đầu năm 1987 do Hội đồng Bộ trưởng trình Hội đồng Nhà nước; thẩm tra Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Nhân dân Bungari (ký ngày 3 tháng 10 năm 1986 tại Xôphia), Hiệp định về hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Ấn Độ (ký ngày 25 tháng 3 năm 1983 tại Bombay). Uỷ ban pháp luật đã tổ chức nhiều cuộc họp để góp ý kiến chỉnh lý Dự thảo Pháp lệnh xử phạt hành chính, Dự thảo Bộ luật lao động, tổng kết công tác xây dựng pháp luật trong 5 năm (1981 - 1985), tham gia ý kiến về xây dựng các văn bản pháp luật phục vụ việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI.

- Uỷ ban kinh tế, kế hoạch và ngân sách đã cử đoàn đi xem xét tình hình xuất nhập khẩu ở hai tỉnh Đồng Tháp, An Giang.

- Uỷ ban y tế và xã hội đã cử đoàn đi xem xét tình hình đời sống của cán bộ về hưu, tình hình thực hiện kế hoạch hoá dân số ở hai tỉnh Hậu Giang, Minh Hải; đã nghe một số cơ quan có liên quan trình bày về sai phạm trong việc sử dụng ngoại tệ ở Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh, đã thông báo ý kiến của Uỷ ban về vấn đề này với Bộ Y tế, Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh.

- Uỷ ban văn hoá và giáo dục đã nghe Bộ Giáo dục báo cáo về việc cải cách giáo dục ở các trường phổ thông cơ sở và phổ thông trung học, cử đoàn đi xem xét tình hình nói trên ở một số trường phổ thông trung học. Thường trực Uỷ ban đã làm việc với Uỷ ban nhân dân và một số ngành có liên quan ở thành phố Hà nội về tình hình vi phạm việc bảo quản một số di tích lịch sử, văn hoá ở Thủ đô.

- Uỷ ban khoa học - kỹ thuật và Uỷ ban đối ngoại đã họp với Thường trực Uỷ ban pháp luật để thẩm tra Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa Việt Nam và Bungari, Hiệp định về hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình giữa Việt Nam và Ấn Độ.

- Thực hiện quyết định của Quốc hội và Hội đồng Nhà nước (khoá VII), Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban thường trực của Quốc hội đã kiểm điểm hoạt động của mình trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá VII và đã có báo cáo trình Hội đồng Nhà nước.

4. Việc giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp:

- Tại phiên họp ngày 25 tháng 3 năm 1987, Hội đồng Nhà nước đã nghe báo cáo về tình hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp từ khi ban hành Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (năm 1983) đến nay và dự thảo Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp đã được chỉnh lý sau khi lấy ý kiến đóng góp của các địa phương và các ngành có liên quan.

Hội đồng Nhà nước đã cho ý kiến và nhấn mạnh: bản dự thảo Quy chế này phải quán triệt sâu sắc tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI là nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, nêu cao vị trí và chức năng của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, tạo điều kiện cho các cơ quan dân cử thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo Hiến pháp và Luật quy định, khắc phục tình trạng hoạt động một cách hình thức. Hội đồng Nhà nước đã giao trách nhiệm cho Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước tiếp tục nghiên cứu chỉnh lý thêm để trình Hội đồng Nhà nước khoá VIII thông qua và mở Hội nghị toàn quốc về Hội đồng nhân dân vào thời gian thích hợp trong 6 tháng cuối năm 1987.

- Tại phiên họp ngày 28-4-1987, Hội đồng Nhà nước đã ra Nghị quyết hướng dẫn thêm về tổ chức và hoạt động của các Ban của Hội đồng nhân dân huyện, xã và cấp tương đương (khoá mới bầu ngày 19-4-1987).

- Theo hướng dẫn của Hội đồng Bộ trưởng, các địa phương đã chuẩn bị và tiến hành việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, xã và tương đương cùng ngày 19-4-1987 với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá VIII (một số địa phương bầu bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và thành phố). Vì các tỉnh, thành phố chưa gửi báo cáo đầy đủ, nên Hội đồng Bộ trưởng chưa báo cáo với Hội đồng Nhà nước về kết quả cuộc bầu cử này.

5. Công tác dân nguyện:

Từ sau kỳ họp thứ 12 của Quốc hội khoá VII đến nay, đã có 3.340 đơn, thư khiếu tố và dân nguyện gửi tới Quốc hội và Hội đồng Nhà nước. Đơn, thư khiếu nại chiếm 74%; đơn, thư tố cáo chiếm 9,8%; thư dân nguyện chiếm 15%.

Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước đã tiếp 908 lượt người đến khiếu tố và trình bày nguyện vọng.

Qua các đơn, thư khiếu tố, dân nguyện và qua việc tiếp dân, có những vấn đề đáng chú ý:

- Đơn, thư tố cáo tập trung vào các việc: ở một số địa phương, chính quyền, Công an xã, huyện, thị xã đã ra lệnh bắt giữ, đánh đập người phạm tội và tình nghi phạm tội, dẫn đến gây thương tích hoặc chết; tình trạng vi phạm pháp luật, vi phạm quyền tự do dân chủ xảy ra nhiều nơi, đáng chú ý là chính quyền cấp xã, cấp huyện ở một số tỉnh phía Nam đã dùng các biện pháp vây ráp, lùng bắt, đánh đập, bắn súng đe doạ để giải quyết mâu thuẫn nội bộ giữa chính quyền và nông dân; một số cán bộ có chức, có quyền đã tham ô, vun vén cá nhân, bao che kẻ xấu và tìm mọi cách trù úm những người trung thực dám đấu tranh chống những việc làm sai trái của họ.

- Đơn, thư khiếu nại tập trung về: vấn đề nhà ở, đất canh tác, có nhiều đơn, thư khiếu nại về các vấn đề này đã lâu vẫn chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhiều nhất là ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; việc thi hành kỷ luật sai với hình thức buộc thôi việc vẫn xảy ra nhiều ở cơ quan xí nghiệp do trù úm hoặc thù hằn cá nhân; có một số vụ, việc đã được các cơ quan chức năng đề nghị hạ mức kỷ luật, nhưng các cơ quan chủ quản vẫn không thi hành, đương sự gặp nhiều khó khăn về đời sống và thiệt thòi về quyền lợi.

Nhiều đơn, thư khiếu nại về việc xét xử của một số Toà án huyện và tỉnh không khách quan, không tôn trọng đầy đủ quyền lợi của bị cáo hoặc của người có liên quan đến vụ án; một số bản án đã có hiệu lực nhưng không được thi hành, nhất là đối với những cán bộ có chức, có quyền.

- Đơn, thư dân nguyện: ngoài các đơn, thư xin ân giảm, ân xá, xin ra nước ngoài đoàn tụ gia đình, xin trợ cấp khó khăn, đề nghị giải quyết công việc làm, đáng chú ý là những ý kiến của một số cán bộ lão thành cách mạng phản ánh với Đảng và Nhà nước về tình hình tiêu cực trong xã hội, về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, về đời sống quá khó khăn, đề nghị với Đảng và Nhà nước xem xét bổ sung, sửa đổi một số chính sách, chế độ cho phù hợp với tình hình mới.

Nhiều đơn, thư của công dân hoan nghênh các quyết định của Đảng và Nhà nước về đổi mới nhận thức và cách làm trong việc giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đã thể hiện quan điểm “lấy dân làm gốc”. Một số đơn, thư phản ánh việc làm sai pháp luật ở một số cơ sở, huyện, quận trong cuộc bầu cử như: còn áp đặt, gò ép trong việc giới thiệu người ra ứng cử, giới thiệu những người không đủ tư cách, đạo đức ra ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

III- VẤN ĐỀ ĐẶC XÁ

Trong 6 tháng đầu năm 1987, Hội đồng Nhà nước đã xét 24 vụ gồm 26 phạm nhân bị kết án tử hình có đơn xin ân giảm. Hội đồng Nhà nước đã bác đơn xin ân giảm của 25 phạm nhân và quyết định ân giảm cho 1 phạm nhân xuống tù chung thân.

IV - CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI

1. Đón tiếp khách nước ngoài:

Đoàn đại biểu Uỷ ban văn hoá và giáo dục của Xô viết tối cao Liên Xô, do đồng chí Saicốp, Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Trưởng ban văn hoá - giáo dục Viện Liên bang Xô viết tối cao Liên Xô dẫn đầu sang thăm nước ta, từ ngày 21 đến ngày 28 tháng 2 năm 1987.

Đoàn đại biểu Quốc hội Anbani, do đồng chí Pêtơrô Đôđê, Uỷ viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Quốc hội dẫn đầu sang thăm nước ta, từ ngày 24 đến ngày 29-4-1987.

2. Tiếp nhận đại diện ngoại giao của nước ngoài:

Hội đồng Nhà nước đã nhận thư uỷ nhiệm của Đại sứ các nước Lào, Miến Điện[1], Philíppin, Ápganixtan, Ai Cập, Vương quốc Anh, Tiệp Khắc.

3. Hoạt động của Đoàn Việt Nam trong Liên minh Quốc hội:

Đoàn đại biểu Việt Nam trong Liên minh Quốc hội do đồng chí Phan Anh, Phó Chủ tịch Quốc hội dẫn đầu đã đi dự Hội nghị tư vấn Liên minh Quốc hội các nước xã hội chủ nghĩa châu á tại Bình Nhưỡng, từ ngày 5 đến ngày 8-3-1987; dự Hội nghị Mùa xuân của Liên minh Quốc hội tại Nicaragoa, từ ngày 27-4 đến ngày 2-5-1987.

V- PHÊ CHUẨN HIỆP ƯỚC, HIỆP ĐỊNH

Tại phiên họp ngày 16-2-1987, theo đề nghị của Hội đồng Bộ trưởng, Hội đồng Nhà nước đã phê chuẩn Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Nhân dân Bungari, ký ngày 03-10-1986 tại Xôphia.

Tại phiên họp ngày 1-4-1986, Hội đồng Nhà nước đã phê chuẩn Hiệp định về hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Ấn Độ, ký ngày 25-3-1986 tại Bombay.

VI - VỀ TỔ CHỨC VÀ NHÂN SỰ CỦA NHÀ NƯỚC

1. Về tổ chức và nhân sự của Hội đồng Bộ trưởng:

- Tại phiên họp ngày 16-2-1987, theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Hội đồng Nhà nước đã quyết định kiện toàn một bước các cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng, cử và miễn nhiệm một số thành viên của Hội đồng Bộ trưởng (phụ lục kèm theo).

Cũng tại phiên họp này, Hội đồng Nhà nước đã quyết định bổ nhiệm: đồng chí Thượng tướng Đoàn Khuê làm Tổng tham mưu trưởng, đồng chí Thượng tướng Nguyễn Quyết làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

- Tại phiên họp ngày 28 tháng 4 năm 1987, theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Hội đồng Nhà nước đã quyết định cử đồng chí Hồ Ngọc Nhường, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước giữ chức Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng.

2. Về bổ nhiệm Đại sứ:

Tại phiên họp ngày 16 tháng 2 năm 1987, theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Hội đồng Nhà nước đã bổ nhiệm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước ta tại Liên Xô, Trung Quốc, Êtiôpia kiêm nhiệm tại Tandania, Burunđi, Uganđa và Ruanđa.

3. Cử Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án nhân dân và Thẩm phán Toà án quân sự, Hội thẩm quân nhân của Toà án quân sự:

Tại phiên họp ngày 25 tháng 3 năm 1987, Hội đồng Nhà nước đã quyết định cử: 3 kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, 5 thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, 7 thẩm phán Toà án Quân sự cấp cao, 9 thẩm phán Toà án Quân sự quân khu, 14 thẩm phán Toà án Quân sự khu vực và 3 hội thẩm quân nhân Toà án Quân sự cấp cao.

VII- CÔNG TÁC KHEN THƯỞNG

Hội đồng Nhà nước đã quyết định:

- Tặng thưởng Huân chương Sao vàng cho đồng chí Kim Nhật Thành, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Triều Tiên, Chủ tịch nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.

- Tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh cho đồng chí Kamara Giannốt, Uỷ viên Trung ương Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa Hunggari, Bộ trưởng Bộ Nội vụ nước Cộng hoà Nhân dân Hunggari.

- Tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho đồng chí Trần Đức Thái, thương binh ở xã Định Hải, huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hoá đã có hành động đặc biệt dũng cảm trong việc bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa.

- Tặng thưởng Huân chương Độc lập cho 3 đơn vị và 1.301 cá nhân đã có nhiều cống hiến đối với sự nghiệp cách mạng hoặc lập được nhiều thành tích trong công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc.

Hội đồng Nhà nước cũng đã quyết định tặng thưởng: 311 Huân chương Lao động, 243.869 Huân chương Kháng chiến, 1.616 Huân chương Quân công, 35.974 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang, 8.530 Huân chương Chiến công cho các đơn vị và cá nhân đã có nhiều thành tích trong lao động, chiến đấu và phục vụ chiến đấu; tặng thưởng 30 Huân chương Hữu nghị cho các đơn vị và cá nhân thuộc các nước xã hội chủ nghĩa đã có công giúp Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

VIII- KIỂM ĐIỂM VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI
VÀ CỦA CÁC ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
TRONG NHIỆM KỲ KHOÁ VII

Thực hiện Quyết định của Quốc hội, tháng 2 năm 1987, các Đoàn đại biểu Quốc hội đã họp kiểm điểm, rút kinh nghiệm về hoạt động của mình và góp ý kiến nhận xét đối với hoạt động của Quốc hội trong nhiệm kỳ khoá VII.

Trên cơ sở tiếp thu những ý kiến đóng góp của các Đoàn, căn cứ vào bản tự phê bình của Hội đồng Nhà nước năm 1986, Hội đồng Nhà nước và các đồng chí lãnh đạo Quốc hội đã thông qua bản kiểm điểm về hoạt động của Quốc hội và của các Đoàn đại biểu Quốc hội trong nhiệm kỳ khoá VII (trung tuần tháng 3 năm 1987) đã gửi các Đoàn đại biểu Quốc hội để làm tài liệu tiến hành việc báo cáo kiểm điểm trước các đại biểu cử tri. (Báo cáo kiểm điểm của Quốc hội khoá VII đã được gửi đến các Đoàn đại biểu Quốc hội).

IX- VIỆC BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHOÁ VIII

(Đã có báo cáo của Hội đồng bầu cử Trung ương gửi các đại biểu Quốc hội)

Trên đây là những điểm chính về công tác của Hội đồng Nhà nước, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban thường trực của Quốc hội, hoạt động của các Đoàn đại biểu Quốc hội trong thời gian từ kỳ họp thứ 12 của Quốc hội khoá VII đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa VIII.

Hội đồng Nhà nước xin báo cáo với các vị đại biểu Quốc hội.

                                                                                                         HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC

 


 

* Báo cáo này được gửi đến các vị đại biểu Quốc hội (BT).

[1]. Nay là Mianma (BT).

  

 

 

PHỤ LỤC

Tại  phiên họp ngày 16 tháng 2 năm 1987, theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Hội đồng Nhà nước đã quyết định:

a) Kiện toàn một bước các cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng:

1. Thành lập Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm trên cơ sở hợp nhất ba Bộ: Bộ Nông nghiệp, Bộ Công nghiệp thực phẩm, Bộ Lương thực.

2. Thành lập Bộ Năng lượng trên cơ sở hợp nhất hai Bộ: Bộ Điện lực, Bộ Mỏ và Than.

Đổi tên Tổng cục Địa chất thành Tổng cục Mỏ và Địa chất.

3. Thành lập Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trên cơ sở hợp nhất hai Bộ: Bộ Lao động, Bộ Thương binh và Xã hội.

4. Thành lập Bộ Thông tin. Giải thể Uỷ ban Phát thanh và Truyền hình Việt Nam.

5. Thành lập Uỷ ban Quan hệ kinh tế với nước ngoài.

6. Thống nhất công tác giáo dục trẻ em vào Bộ Giáo dục trên cơ sở sáp nhập Uỷ ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em vào Bộ Giáo dục. Thống nhất công tác dạy nghề vào Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp trên cơ sở sáp nhập Tổng cục Dạy nghề vào Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp.

7. Giải thể Uỷ ban Dân tộc của Chính phủ.

b) Cử và miễn nhiệm một số thành viên của Hội đồng Bộ trưởng:

1. Đồng chí Nguyễn Cơ Thạch giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Đồng chí Trần Quỳnh thôi giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

2. Đồng chí Nguyễn Khánh giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Tổng thư ký Hội đồng Bộ trưởng.

Đồng chí Đoàn Trọng Truyến thôi giữ chức Bộ trưởng Tổng thư ký Hội đồng Bộ trưởng kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng.

3. Đồng chí Nguyễn Ngọc Trìu giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Đồng chí Vũ Đình Liệu thôi giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

4. Đồng chí Trần Đức Lương giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

5. Đồng chí Đoàn Duy Thành giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại thương.

6. Đồng chí Nguyễn Văn Chính (Chín Cần) giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Thanh tra Nhà nước.

Đồng chí Bùi Quang Tạo thôi giữ chức Chủ nhiệm Uỷ ban Thanh tra Nhà nước.

7. Đồng chí Lê Đức Anh giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Đồng chí Văn Tiến Dũng thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

8. Đồng chí Phạm Hùng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thôi kiêm giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Đồng chí Mai Chí Thọ giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

9. Đồng chí Nguyễn Công Tạn giữ chức Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm.

10. Đồng chí Hoàng Quy thôi giữ chức Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm thứ nhất Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước để giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Đồng chí Đậu Ngọc Xuân giữ chức Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm thứ nhất Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước.

11. Đồng chí Vũ Tuân thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính để giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ.

Đồng chí Nguyễn Chí Vu thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ.

12. Đồng chí Vũ Ngọc Hải giữ chức Bộ trưởng Bộ Năng lượng. Đồng chí Phạm Khai thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Điện lực.

13. Đồng chí Phan Thanh Liêm giữ chức Bộ trưởng Bộ Cơ khí và Luyện kim.

Đồng chí Nguyễn Văn Kha thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Cơ khí và Luyện kim.

14. Đồng chí Phan Văn Tiệm giữ chức Chủ nhiệm Uỷ ban Vật giá Nhà nước.

15. Đồng chí Trần Văn Phác giữ chức Bộ trưởng Bộ Văn hoá.

16. Đồng chí Trần Hồng Quân giữ chức Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp.

Đồng chí Nguyễn Đình Tứ thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp.

17. Đồng chí Phạm Minh Hạc giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Đồng chí Nguyễn Thị Bình thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục.

18. Đồng chí Nguyễn Kỳ Cẩm giữ chức Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.

Đồng chí Đào Thiện Thi thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Lao động.

Đồng chí Song Hào thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội.

19. Đồng chí Trần Hoàn giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin.

 

 

Lưu tại Trung tâm Lưu trữ
quốc gia III, phông Quốc hội

   
Về trang mục lục

Trở về đầu trang