Error

Web Part Error: A Web Part or Web Form Control on this Page cannot be displayed or imported. The type TVPortal.Publishing.Category.wpMenuLeftDaiBieuQuocHoi2, TVPortal.Publishing.Category, Version=1.0.0.0, Culture=neutral, PublicKeyToken=616514c961de576d could not be found or it is not registered as safe. Correlation ID: 19d3a39f-a119-50ef-b3a8-a1153db9c4f1.

Error Details:
[UnsafeControlException: A Web Part or Web Form Control on this Page cannot be displayed or imported. The type TVPortal.Publishing.Category.wpMenuLeftDaiBieuQuocHoi2, TVPortal.Publishing.Category, Version=1.0.0.0, Culture=neutral, PublicKeyToken=616514c961de576d could not be found or it is not registered as safe.]
  at Microsoft.SharePoint.ApplicationRuntime.SafeControls.GetTypeFromGuid(Boolean isAppWeb, Guid guid, Guid solutionId, Nullable`1 solutionWebId, String assemblyFullName, String typeFullName, Boolean throwIfNotSafe)
  at Microsoft.SharePoint.WebPartPages.SPWebPartManager.CreateWebPartsFromRowSetData(Boolean onlyInitializeClosedWebParts)

ĐBQH TRẦN VĂN MINH: KINH TẾ VIỆT NAM ĐỐI MẶT THÁCH THỨC LỚN ĐỂ BẮT KỊP NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA CÁC NƯỚC

11/01/2021

Cho ý kiến về tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế xã hội năm 2021 và những năm tiếp theo, đại biểu Trần Văn Minh, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ninh cho rằng, trong thời gian tới, kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với thách thức rất lớn để có thể bắt kịp với năng suất lao động của các nước trong khu vực và trên thế giới.

Tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp TFP vào tăng trưởng rất thấp.

Đại biểu Trần Văn Minh cho biết, sau khi nghiên cứu báo cáo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, từ năm 2021 Chính phủ đã bổ sung một số chỉ tiêu liên quan đến chất lượng tăng trưởng phát triển bền vững, như năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong đóng góp vào tăng trưởng, tốc độ tăng năng suất lao động xã hội, v.v.. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng cần thiết phải xem xét lại cụ thể một số chỉ tiêu cho phù hợp hơn.

Cụ thể, về tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp TFP vào tăng trưởng. Trước năm 2010 đóng góp của TFP vào tăng trưởng rất thấp, từ năm 2010 thì TFP tăng dần. Giai đoạn 2011-2018 thì TFP có mức tăng cao hơn, nhất là từ năm 2014 đến nay. Như giai đoạn 2011-2015 đạt khoảng 33,6%, giai đoạn 2016-2018 đạt khoảng 44,2%. Nhưng các nước ở trong khu vực cơ bản đã ở mức trên 50%, ví dụ Hàn Quốc là 51,5%, Trung Quốc 52%, Thái Lan 53%, v.v.. Điều đó cho thấy tỷ lệ đóng góp của TFP và tăng trưởng Việt Nam còn có khoảng cách khá xa cho các nước trong khu vực, đòi hỏi chúng ta phải có nhiều cố gắng hơn nữa. Tuy nhiên, báo cáo của Chính phủ cho thấy còn một số các bất cập cần được xem xét thêm bởi 02 lý do sau:

Thứ nhất, giai đoạn 2011 đến 2015, TFP đóng góp vào tăng trưởng đã đạt 33,58%, nhưng kế hoạch đặt cho giai đoạn tiếp theo là 2016-2020 cũng chỉ ở mức khiêm tốn là 30% đến 35%. Đại biểu cho rằng mục tiêu đặt ra như vậy là thấp, điều này càng thể hiện rõ khi TFP đóng góp vào tăng trưởng của giai đoạn này đạt 45,21%. Khi xây dựng kế hoạch giai đoạn 2016-2020, chúng ta đã không thật quan tâm tính toán kỹ về chỉ tiêu này hoặc đang đặt ra ở mức khiêm tốn để bảo đảm an toàn cho việc hoàn thành kế hoạch. Dù là lý do nào thì theo đại biểu Trần Văn Minh đặt mục tiêu TFP vào tăng trưởng chung của nền kinh tế đã không sát thực tiễn và không đáp ứng được yêu cầu cần phải tăng trưởng chất lượng nhanh hơn.

Đại biểu Trần Văn Minh, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ninh cho rằng, tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp TFP vào tăng trưởng rất thấp.

Lý do thứ hai là, kết quả TFP đạt được 45,21% như vừa đề cập ở trên còn chưa tính đến ảnh hưởng của dịch COVID. Ví dụ như là, ước thực hiện năm 2020 chỉ đạt mức rất thấp là 37,48%. Kế hoạch năm 2021 Chính phủ dự kiến là 45% đến 47% nhưng kế hoạch giai đoạn 2021 đến 2025 chỉ đặt ra khoảng 45%, thấp hơn kết quả đạt được của giai đoạn trước chỉ bằng cận dưới của kế hoạch năm 2021 khi ảnh hưởng của COVID còn khá nặng nề. Đại biểu Trần Văn Minh cho rằng kịch bản không thận trọng trong việc lập kế hoạch và chỉ tiêu này đang được lặp lại cho nhiệm kỳ 2021-2025.

Với đánh giá so sánh phân tích trên, với yêu cầu tăng trưởng nhanh hơn nữa, chất lượng tăng trưởng góp phần vào nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đại biểu đề nghị Chính phủ xem xét lại và đặt ra chỉ tiêu này ở mức tích cực hơn.

Cần có giải pháp tăng năng suất lao động và cân nhắc tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng tiêu thụ.

Vấn đề thứ hai được đại biểu Trần Văn Minh góp ý vào Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế xã hội đó là về tốc độ tăng năng suất lao động xã hội. Tra cứu số liệu thống kê về năng suất lao động xã hội nước ta và làm vài phép tính đơn giản đại biểu cho rằng: Năm 2017, tốc độ tăng năng suất lao động đạt 6,09% nhưng năng suất nao động vẫn rất thấp so với các nước trong khu vực như Singapore, Malayxia, Thái Lan, Indonesia, Philippines có năng suất lao động cao hơn nước ta lần lượt là 13,9; 5,4; 2,8; 2,3 và 1,8 lần. Năm 2019 tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam đạt 6,28% tiếp tục cao hơn mức tăng so với khu vực, nhưng khoảng cách về năng suất lao động mà được thu hẹp so với các nước thì vẫn rất thấp. Sau 2 năm so với Singapore, Malayxia, Thái Lan, Indonesia thì năng suất lao động của Việt Nam chỉ thu hẹp được lần lượt là 5,0; 5,6; 7,1; 4,3%. Số liệu này nói lên rằng, nếu ta và các bạn vẫn giữ nguyên tốc độ tăng năng suất lao động như hiện nay thì phải sau khoảng 20 năm nữa thì năng suất lao động của nước ta mới bằng các nước trong khu vực,  điều đó khó có thể chấp nhận.

Đại biểu Trần Văn Minh cũng nêu dẫn chứng, khoảng cách năng suất lao động của nước ta so với Philippines hầu như không thay đổi. Năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 90% Mianma, bằng 88,7% nước bạn Lào và chỉ cao hơn Campuchia. Điều này cho thấy, kinh tế Việt Nam sẽ phải đối mặt với thách thức rất lớn trong thời gian tới để có thể bắt kịp với năng suất lao động của các nước. Dẫu biết rằng, tăng năng suất lao động phụ thuộc rất nhiều yếu tố, như trình độ công nghệ, kỹ năng lao động, năng lực tổ chức và quản trị, v.v. chúng ta không thể quá nóng vội, nhưng thực tế yêu cầu phát triển đòi hỏi chúng ta phải có sự bứt phá vượt bậc hơn nữa. Từ những phân tích trên, đại biểu đề nghị Chính phủ cân nhắc đặt ra những chỉ tiêu này cho giai đoạn 2021-2025 một cách tích cực hơn.

Về tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng tiêu thụ cuối cùng tại Báo cáo số 41 ngày 15/10/2020 của Chính phủ đặt ra mức 31,5%. Để đảm bảo an ninh năng nượng, giảm thiểu biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và đảm bảo phát triển xã hội bền vững, việc phát triển năng lượng tái tạo để thay thế một phần nhiệt điện than là xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, đại biểu Trần Văn Minh nhấn mạnh, mỗi vấn đề đều có tồn tại và giới hạn của nó, năng lượng tái tạo cũng vậy, bên cạnh ưu điểm là sản phẩm của một quy trình sản xuất không tốn kém tài nguyên khoáng sản như nhiệt điện than nhưng nó lại tốn kém về tài nguyên đất và mặt nước. Mức độ phát triển năng lượng tái tạo còn liên quan đến khả năng trợ giá của Chính phủ, nhất là trong điều kiện ngân sách của chúng ta còn đang khó khăn.

Về những đặc điểm kỹ thuật đặc thù như công xuất phát không ổn định, khó dự báo chính xác và năng lượng mặt trời chỉ phát vào ban ngày nên đòi hỏi hệ thống cung cấp điện phải có dự phòng lớn, dẫn đến đầu tư lớn. Về nguy cơ ô nhiễm môi trường khi thải loại số lượng lớn các tấm pin mặt trời. Ngay kể cả điện gió cũng có những ô nhiễm tiếng ồn và ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, v.v. tỷ lệ năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện bao nhiêu thì phù hợp. Đó là câu hỏi rất cần được Chính phủ và các cơ quan chức năng tính toán cẩn trọng, toàn diện trên cơ sở các yếu tố về kinh tế, kỹ thuật và môi trường khi xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025./.

Lan Hương