Lịch sử Quốc hội Việt Nam

Skip Navigation LinksQHVN-qua-cac-thoi-ky

Thời kỳ 1980-1992

30.11.2015

Bối cảnh

Giai đoạn 1980-1992 là thời kỳ cả nước đang tích cực đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với việc đẩy mạnh phong trào hợp tác hóa và công nghiệp hóa đất nước. Hiến pháp năm 1980 đã có những quy định mới về nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước vào thời kỳ này. Đây là thời kỳ Quốc hội được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp 1980 và Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước năm 1981.

Kết quả hoạt động

1. Quốc hội khóa VII (1981 - 1987)

- Bầu cử ngày 26-4-1981.

- Tổng số đại biểu: 496.

Cơ cấu thành phần của Quốc hội như sau:

+ Công nhân                  :         20,16%      

+ Nông dân                    :         18,64%      

+ Trí thức                       :         22,17%

+ Đảng viên                    :         84,12%

+ Cán bộ chính trị           :         24,39%

+ Dân tộc thiểu số           :         14,91%

+ Quân đội                     :         9,87%

+ Phụ nữ                         :         21,776%

+ Thanh niên                  :         18,14%

Quốc hội khóa VII đã bầu Hội đồng Nhà nước do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch, 4 Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Tổng thư ký Hội đồng Nhà nước. Quốc hội đã bầu Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch Quốc hội và 9 Phó Chủ tịch Quốc hội; bầu Hội đồng quốc phòng; bầu Hội đồng dân tộc và 7 ủy ban: Uỷ ban pháp luật, Uỷ ban kinh tế - kế hoạch và ngân sách, Uỷ ban văn hóa và giáo dục, Uỷ ban khoa học và kỹ thuật, Uỷ ban y tế và xã hội, Uỷ ban thanh niên, thiếu niên và nhi đồng và Uỷ ban đối ngoại.

Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa VII, với 12 kỳ họp, Quốc hội đã ban hành được 10 đạo luật và 35 nghị quyết; Hội đồng Nhà nước ban hành được 15 pháp lệnh. Ngoài các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước được ban hành mới theo Hiến pháp 1980, đáng chú ý là lần đầu tiên Quốc hội đã ban hành Bộ luật hình sự (1985) gồm 280 điều quy định về tội phạm và hình phạt; Luật hôn nhân gia đình (1986) gồm 57 điều trên cơ sở kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, thể hiện bước phát triển đáng kể trong hoạt động lập pháp của Quốc hội.

Quốc hội đã triển khai thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, như: thành lập các cơ quan nhà nước ở Trung ương; thông qua các nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm; quyết định các vấn đề về việc cử và miễn nhiệm một số thành viên Hội đồng Bộ trưởng...

Hoạt động giám sát cũng được Quốc hội và Hội đồng Nhà nước coi trọng, tập trung về các vấn đề quản lý kinh tế - xã hội, việc thi hành Hiến pháp, pháp luật nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Hoạt động chất vấn tại kỳ họp đã có bước cải tiến với việc tại kỳ họp thứ 10, các đại biểu Quốc hội đã tập trung chất vấn vào việc đánh giá những sai lầm, khuyết điểm về việc thực hiện chính sách giá - lương - tiền; đồng thời đề ra những biện pháp khắc phục.

Ý thức sâu sắc về trách nhiệm đối với sự nghiệp bảo vệ hòa bình của các dân tộc, trong hoạt động đối ngoại, Quốc hội luôn tuân thủ nguyên tắc nhất quán, ủng hộ những sáng kiến hòa bình, bảo đảm an ninh chung của nhân loại.

2. Quốc hội khóa VIII (1987 - 1992)

- Bầu cử ngày 19 tháng 4 năm 1987

- Tổng số đại biểu: 496

Cơ cấu thành phần của Quốc hội như sau:

+ Công nhân                  :         20%           

+ Nông dân                    :         21%           

+ Trí thức                       :         24,9%

+ Đảng viên                    :         93%

+ Cán bộ chính trị           :         20,2%

+ Dân tộc thiểu số           :         14%

+ Quân đội                     :         9,9%

+ Phụ nữ                         :         18%

+ Thanh niên                  :         11,2%

Quốc hội khóa VIII là Quốc hội của giai đoạn khởi đầu sự nghiệp Đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra nhằm ổn định tình hình kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ quốc tế, đưa đất nước sớm ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, vững bước tiến lên trên con đường xã hội chủ nghĩa.

Tại kỳ họp thứ nhất, từ ngày 17 đến 22 tháng 6 năm 1987, Quốc hội đã bầu đồng chí Lê Quang Đạo làm Chủ tịch Quốc hội, 5 Phó Chủ tịch Quốc hội; thành lập Hội đồng quốc phòng, Hội đồng dân tộc và 7 uỷ ban: Uỷ ban pháp luật; Uỷ ban kinh tế, kế hoạch và ngân sách; Uỷ ban văn hóa và giáo dục; Uỷ ban khoa học và kỹ thuật; Uỷ ban y tế và xã hội; Uỷ ban thanh niên, thiếu niên và nhi đồng và Uỷ ban đối ngoại.

Để đáp ứng yêu cầu quản lý đất nước bằng pháp luật, trong nhiệm kỳ 5 năm với 11 kỳ họp, Quốc hội đã thông qua 2 bộ luật, 25 đạo luật và Hội đồng Nhà nước đã ban hành 39 pháp lệnh. Đáng chú ý là nhiều đạo luật quan trọng thể chế hóa chính sách kinh tế mới lần đầu tiên đã được ban hành, như Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1987), mở đường cho việc đẩy mạnh đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật doanh nghiệp tư nhân (1990) và Luật công ty (1990) là những đạo luật quan trọng thể chế hóa đường lối phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta. Lần đầu tiên các luật này thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và quyền thành lập công ty và doanh nghiệp tư nhân. Quốc hội còn ban hành các luật về thuế như: Luật thuế doanh thu, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật thuế lợi tức, Bộ luật hàng hải, Luật hàng không dân dụng. Hội đồng Nhà nước đã ban hành hàng loạt pháp lệnh điều chỉnh các mặt khác nhau của đời sống xã hội.

Tại kỳ họp thứ 5, tháng 6 năm 1989, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về việc thành lập Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp gồm 27 thành viên do đồng chí Võ Chí Công làm Chủ tịch, để tiến hành sửa đổi Hiến pháp 1980 một cách cơ bản và toàn diện, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Hiến pháp mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội khóa VIII xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 11 năm 1992. Kế thừa và phát triển các bản hiến pháp trước đây, ngoài việc thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, Hiến pháp 1992 đã thể chế hóa cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tạo cơ sở pháp lý đưa đất nước phát triển trong giai đoạn mới.

Trong việc thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, Quốc hội, Hội đồng Nhà ước, Hội đồng dân tộc, các ủy ban thường trực của Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội đã có nhiều cố gắng, quan tâm đến những vấn đề nóng bỏng, cấp bách về kinh tế- xã hội và thi hành pháp luật, nhằm nâng cao vai trò của Quốc hội, từng bước vươn lên thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, đáp ứng lòng mong mỏi của nhân dân. Trong nhiệm kỳ, ngoài việc thảo luận, ra nghị quyết về các nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước, Quốc hội đã xem xét, quyết định sáp nhập các bộ và thay đổi, bổ sung nhân sự cấp cao của nhà nước. So với các nhiệm kỳ trước, cách bàn bạc và biểu quyết của Quốc hội khóa VIII được thực hiện dân chủ và cởi mở hơn, thể hiện được trách nhiệm của Quốc hội và đại biểu Quốc hội với cử tri cả nước.